(Lời mở: Ngày 30 tháng Tư lại sắp trở về . Ba mươi sáu năm (1975-2011)đã trôi qua . Thêm một năm nữa, chúng ta sống xa quê hương yêu dấu . Thêm một năm nữa, niềm hy vọng được trở về nơi "chôn nhau cắt rốn" của người Việt hải ngoại - nhất là của các bậc cao niên, thế hệ những người anh Cả, chị Cả của chúng ta - lại thêm nhạt nhòa ...

Chúng tôi bắt đầu trang "THÁNG TƯ , NHÌN LẠI ..."  bằng việc - trước hết -  trích đăng một đoạn ngắn trong bài "Tấn thảm kịch 1975 (2 ) "   của tác giả Trọng Đạt  để chúng ta có một cái nhìn tổng quát về thời gian Miền Nam Việt Nam mất dần đất đai vào tay Cộng quân như thế nào . Trưa ngày 30/4/1975, ông Dương Văn Minh - Tổng Thống nhận chức ngày 28/4/1975 - đã tuyên bố đầu hàng .. ...Nhưng thực ra các cuộc tấn công ồ ạt của Cộng quân để xâm lấn những vùng đất của Việt Nam Cộng Hòa đã bắt đầu từ tháng 3-1975 . Xin chia xẻ cùng quí bạn đọc - NN)

                                I- Tấn  Thảm  Kịch  1975   (2) 

Nguồn:motgoctroi.com             Trọng Đạt

( Trích đoạn )

....................

 Bắc Việt...

... bất ngờ đưa ba Sư đoàn tấn công Ban mê thuột ngày 10-3, thành phố gần như bỏ ngỏ vì chỉ được phòng thủ rất sơ sài, hôm sau hầu như toàn thị xã lọt vào tay BV. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh QK-2 mắc lừa kế nghi binh của Văn Tiến Dũng tưởng là BV tấn công Pleiku ông đã phòng thủ rất kỹ đại bản doanh này nên đã để mất Ban Mê Thuột.


Hai hôm sau 12-3-1975 Quốc hội Mỹ cắt 300 triệu đô la quân viện bổ túc cho VNCH mà TT Ford đã đệ trình trước đây và quân viện cho năm tới sẽ không được chuẩn chi như thế ta chỉ còn đạn đủ đánh trong vòng vài tháng. Từ ngày 11-3 tại dinh Ðộc Lập TT Nguyễn văn Thiệu triệu tập phiên họp An ninh QG với Ðại Tướng Cao Văn Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Ðặng Văn Quang cho biết phải rút Quân bỏ QK-1 và 2 để về bảo vệ QK-3 và 4 vì lãnh thổ quá rộng không đủ lực lượng bảo vệ. Kontum, Pleiku bị áp lực nặng, Tướng Phú bay về Cam ranh họp với các Tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang để bàn kế hoạch rút lui Pleiku theo đường số 7 B về Tuy Hoà.


Cuộc triệt thoái bắt đầu từ 16-3 đến 19-3, ngày đầu nhờ yếu tố bất ngờ nên đoàn lữ hành ra đi êm xuôi, hôm sau dân chúng ùa theo, ngày 18-3 đoàn di tản tới Phú Bổn, chiến xa và đại bác dồn đống tại đây bị Cộng quân pháo kích hư hại gần hết . Cuộc triệt thoái không có kế hoạch đầy đủ, cấp trên nhiều người bỏ đơn vị chạy trước, kỷ luật hỗn tạp, kẻ xấu lợi dụng phá hoại, giết chóc. . Cuộc triệt thoái trên đường số 7B đã đi vào vết xe đổ của cuộc lui binh tại Cao Bắc Lạng của Pháp năm 1950 được coi như một thảm bại lớn nhất trong cuộc chiến tranh tại miền Nam nước Việt từ trước đến nay.
Tướng Cao Văn Viên cho rằng ít nhất 75% các lực lượng chiến đấu của Quân đoàn 2 đã bị tiêu diệt, 60 ngàn chủ lực quân khi về đến Tuy hoà chỉ còn lại khoảng 20 ngàn, năm Liên đoàn BÐQ 7,000 người chỉ còn 900 người, 100 xe tăng các loại chỉ còn 13 cái M-113, trong số 200 ngàn dân Cao nguyên chạy loạn chỉ có khoảng 45 ngàn người tới được Tuy Hoà. Tổng số vũ khí đạn dược trị giá 253 triệu đô la lọt vào tay Cộng quân. Ít ra cũng có tới hằng chục ngàn người thiệt mạng, cuộc triệt thoái mang lại hậu quả hết sức tai hại, nó đã kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ VNCH.


Miền Nam đang ở trong tình trạng ngặt nghèo vì thiếu đạn, săng dầu. . Ông Thiệu lại đưa ra những quyết định sai lầm vô cùng tai hại khiến cho đất nước trong chớp mắt đã kề bên bờ vực thẳm. Ngày 13-3 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh QK-1 về dinh Ðộc Lập họp Hội Ðồng an ninh QG, TT Thịêu yêu cầu Tướng Trưởng đưa trả Sư đoàn Dù về QK-3 thực hiện tái phối trí lực lượng.
Ngày 14-3 Tướng Trưởng trở ra Ðà Nẵng họp tham mưu thảo luận kế hoạch tái phối trí, Liên đoàn 14 BÐQ thay thế TQLC tại Quảng Trị để TQLC thay Lữ đoàn Dù.
Ngày 17-3 TQLC rời Quảng Trị về Ðà Nẵng khiến dân chúng sợ hãi di tản ồ ạt trên Quốc lộ 1.
Ngày 19-4 Tướng Trưởng về Sài Gòn trình bầy kế hoạch lui binh từ Huế, Chu Lai về Ðà nẵng theo đường bộ, trong trường hợp đường bộ bị cắt thì các lực lượng của Quân đoàn sẽ tập trung tại Huế, Ðà Nẵng, Chu lai, tầu Hải quân sẽ chở lính từ Huế, Chu lai về Ðà Nẵng, thành phố này vẫn là điểm tựa cuối cùng. Ngày 19-3 Quảng Trị bỏ ngỏ, Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh tại Bắùc và Nam Quân khu.


Nhìn trên bản đồ quân sự ta thấy VNCH chỉ còn kiểm soát được khoảng 1/3 diện tích QK-1 kể từ ngày 19-3-1975 Quảng Trị coi như bỏ ngỏ đã lọt vào tay Bắc Việt. Hôm 20-3 Tổng Thống hiệu triệu trên đài phát thanh Huế ban hành lệnh tử thủ. Ngày hôm sau Tướng Trưởng nhận được lệnh bỏ Huế rút về Ðà nẵng, ngày 24-3 Cộng quân tấn công dữ dội, ngày 25-3 Quảng Tín và Quảng Ngãi thất thủ.


Ngày 25-3 các đơn vị của Quân đoàn đã tụ tập tại 3 phòng tuyến chính Nam Chu Lai, Ðà Nẵng, Bắc Huế, các lực lượng Quân đoàn thiệt hại nặng trên đường di tản về các phòng tuyến này. Tướng Trưởng cho Sư đoàn 1 và các lực lượng quanh Huế rút về Ðà Nẵng, ông cũng lệnh cho Sư đoàn 2, chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ rút ra Cù lao Ré ngoài khơi Chu Lai, khoảng một nửa quân số của Sư đoàn 2 đã lên tầu. Ngày 26-3 tại cửa Tư Hiền và Thuận An các đơn vị TQLC, BÐQ, ÐPQ… cùng với hàng trăm khẩu pháo.. hỗn loạn diễn ra, người ta bắn nhau để giành chỗ trên tầu, CSBV pháo kích vào địa điểm tập trung quân gây thiệt hại nặng nề.


Ngày 27-3 cuộc phòng thủ Ðà Nẵng trở nên vô hiệu trước sự hỗn loạn, thành phố nay đông nghẹt những người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát nổi. Cuộc di tản tại QK-1 đã diễn ra một cách hỗn loạn được coi như tồi tệ hơn tại QK-2, các nhân chứng sau này kể lại nhiều người cấp lớn bỏ lính để chạy tháo thân. Ngày 28-3 Ðà nẵng bắt đầu nghiêm trọng, Cộng quân pháo vào thành phố dữ dội gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, Tướng Trưởng gọi về BTTM xin di tản, ông Thiệu không ra lệnh rõ ràng. Ngày 29-3 Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Ðà Nẵng. Tại QK-2 ngày 27-3 Lâm Ðồng di tản, ngày 1-4 Qui Nhơn thất thủ sau một tuần giao tranh dữ dội, Sư đoàn 22 BB chiến đấu rất anh dũng nhưng không thể chống lại lực lượng quá đông đảo của Cộng quân. Ngày 16-4 mất Phan Rang, hai hôm sau Phan Thiết chịu chung số phận, toàn bộ hai QK-1 và 2 lọt vào tay CSBV.


Kế hoạch tái phối trí của ông Thiệu rút bỏ hai Quân khu 1 và 2 chẳng khác nào dọn cỗ sẵn cho CSBV xơi, họ chiếm được 16 tỉnh, một nửa VNCH trong vòng có hơn một tháng. Tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, xe tăng đại bác . . tại hai vùng hầu như mất hết, một phần lớn đã lọt vào tay Cộng quân, đúng là giáo vào tay giặc. Năm 1976, Cộng Sản tiết lộ trên báo chí họ đã lấy được rất nhiều chiến lợi phẩm tại Vùng 1 và 2 nào xe cộ, đại bác, thiết giáp. . để trang bị thêm, đạo quân của CS bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Cuộc rút lui hỗn loạn tại hai Quân khu dưới những trận mưa pháo của địch khiến hằng vạn người bị chết oan.


Tại Xuân Lộc Long Khánh QÐVNCH chống trả dữ dội cuộc tấn công của BV gây thiệt hại nặng nề cho địch. Ngày 18-4-1975 Quốc Hội Mỹ bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp cho VNCH của TT Ford, đối với người Mỹ chiến tranh VN cũng như Ðông Dương đã được giải quyết xong, nói trắng ra họ bỏ Ðông Dương giao lại cho CS. Tại Sài Gòn các ông to bà lớn đã chuẩn bị kế hoạch “tẩu vi thượng sách” y như năm 1949 tại Nam Kinh bên Trung Hoa các ông Bộ trưởng, Tỉnh trưởng đã lên máy bay ra đảo Ðài Loan.
Ngày 21-4 ông Thiệu từ chức, tuyên bố Hoa kỳ bỏ rơi đồng minh, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, ba ngày sau hai ông Thiệu và Khiêm rời Sàigòn sang Ðài Loan. Ngày 28-4 ông Trần văn Hương bàn giao cho ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Sau khi chiếm được hai Quân khu 1 và 2, BV hối hả đưa đại binh vào chiếm Sài Gòn trước mùa mưa, tổng cộng họ đã dưa vào gần 20 Sư đoàn, khoảng 400 xe tăng và 400 đại bác.


Phía VNCH chỉ có 3 Sư đoàn 25, 5, 18 và các lực lượng di tản từ miền Trung tổng cộng độ 6 Sư đoàn. BTTM đã lấy hết súng đạn, tái trang bị cho các đơn vị di tản, hoả lực yếu kém, năm phòng tuyến bảo vệ Thủ đô của VNCH là tuyến Củ chi , Bình Dương, Biên Hoà, Vũng Tầu, Long An… bị sụp đổ trước các cuộc tấn công của BV từ ngày 26-4 cho tới sáng 30-4. Mặc dù các đơn vị cảm tử của VNCH như Biệt cách Dù vẫn còn chiến đấu anh dũng tại Ngã Tư Bẩy Hiền nhưng ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trưa ngày 30-4 để tránh đổ máu vô ích.

......................................

Trọng Đạt

                                

II- Hình Ảnh Lịch Sử hai cuộc di cư vĩ đại của người Việt Nam quyết tâm đi tìm Tự Do : (Nguồn : sưu tầm trên Net )

I-Di cư từ miền Bắc VN vào Nam 1954 :1-"VỀ VỚI TỰ DO"

*Cuộc di cư 54: Dời bến Hải Phòng

 

*  Về với Tự Do                        

                                                         

* Cặp Bến  Sài Gòn                                                  

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2-CUỘC SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NAM VIỆT NAM SAU 1954 : Dù chính kiến khác nhau ra sao, ai cũng thừa nhân, dân chúng miền Nam, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, đã được hưởng một cuộc sống thanh bình , dù chỉ trong một thời gian ngắn , ít nhất từ  1955  cho đến 1961 .

Nguồn hình ảnh: NN sưu tầm trên Net

 Ban Mê Thuật 1957

  Nhà máy dệt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

III- Cuộc di tản 1975 từ Sài Gòn & Miền Nam Việt Nam :

* Di tản khỏi Đà Nẵng

                                                                                

*Binh sĩ chạy thoát khỏi Huế

 

 

 

 

 

 

* Di tản khỏi Sài Gòn 1975 :

 *Thuyền nhân di tản khỏi miền Nam Việt Nam :

 

 

 

  

  

  

  

  

 

 

 

 

 

 

 

* Những anh hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã  tự sát theo thành:

Nguồn : tvvn.org

    Cấp bậc - Chức vụ - Đơn vị - Ngày tự sát

    1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, cựu tư lệnh Quân Đoàn II 30/4/1975

    2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn IV 30/4/1975

    3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn IV 30/4/1975

    4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh 30/4/1975

    5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh 30/4/1975

    6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh- khóa 16 Đà Lat. 31/3/1975 tự sát tại Quy Nhơn

    7- Đại Tá Lê Câu, trung đoàn trưởng 47 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Tự sát ngày 10/3/1975

    8- Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang). 30/4/1975

    9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập, đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ. Tự sát 30/4/75 tại BTLKQ

    10- Trung Tá Nguyễn Văn Long CSQG 30/4/1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Sài Gòn

..........................................................................................

(Danh sách này còn dài, vì trang web có giới han, chúng tôi xin trở lại vào một dịp khác - NN)