1.Nhà van Dương Nghiêm Mậu(DTL)2.Dương Nghiễm Mậu và tự truyện ..(NTV)

DƯƠNG NGHIỄM MẬU, TRƯỚC, SAU, CHÓI GẮT Ý THỨC CHỌN LỰA TỰ DO, NHÂN BẢN.

Tác giả Du Tử Lê

Nguồn:Đào Hiêu

CHÚ THÍCH ẢNH: Từ trái: Đỗ Quý Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ (1957)

NHÀ`VĂN DƯƠNG NGHIỄM MẬU TỪ TRẦN: Tối ngày 2/8/2016, nhà văn Dương Nghiễm Mậu đang ngồi bên bàn viết thì đột ngột bị nhồi máu cơ tim. Dù được gia đình mau chóng đưa đi cấp cứu, ông đã không qua khỏi. Ông mất tại Sài Gòn, thọ 81 tuổi.

Sau đây là bài viết của tác giả Du Tử Lê về nhà văn tài hoa này:

Mỗi giai đoạn hay thời kỳ văn học của đất nước nào, cũng có một số tệ trạng thành thuộctính của xã hội đó. Sự kiện này đưa tới những ghi nhận thiên lệch, mang tính địa phương, phe phái…ít nhiều đã ảnh hưởng tới đám đông. Đồng thời, nó cũng làm nản lòng, thui chột những tài năng không may mắn, thiếu cơ hội.

Một thí dụ cụ thể là tập “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân, xuất bản lần thứ nhất, năm 1942, ghi lại những khuôn mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới. Trong số trên 40 nhà thơ được đề cập, thì, một phần ba tác giả mà tác phẩm này ghi nhận, ngay tự thời đó, cũng đã không được nhiều người biết đến, như: Thúc Tề, Xuân Tâm, Thu Hồng, Vân Đài, Phan Thanh Phước hay, Mộng Huyền, Nguyễn Đình Thư, Đỗ Huy Nhiệm, Phan Khắc Khoan, Nguyễn Xuân Huy…Vì tự thân những sáng tác của họ, không mang một giá trị nào.

Trong khi những tên đáng kể như Hồ Dzếnh, Đinh Hùng… lại bị bỏ quên. Không được nhắc tới, dù chỉ một dòng!

Nhìn lại văn học miền Nam, 20 năm, những tệ trạng trở thành thuộc tính xã hội của thời kỳ này, có thể quy vào mấy điểm sau đây:

– Tình trạng phe phái, do mặc cảm tự tôn.

– Tinh thần địa phương cục bộ, do mặc cảm tự ti về nơi chốn xuất thân.

– Tinh thần phân chia lớp trước, lớp sau. Và,

– Nhiệt tình thổi phồng, đánh bóng quá lố một số tên tuổi, khiến những người không cá tính, kém bản lãnh hùa theo để có ảo giác: Mình cũng thuộc thành phần thưởng ngoạn có…trình độ “tiên tiến”!

Một người bạn họa sĩ nổi tiếng trước tháng 4-1975, vốn theo dõi sít sao sinh họat văn chương miền Nam, 20 năm, từng than với tôi rằng, miền Nam một thời, như con ngựa bị che hai bên mắt bởi một vài nhân vật có phương tiện truyền thông trong tay; khi ông đề cập tới tên tuổi một tác giả thuộc nhóm Sáng Tạo, được những người cùng nhóm tung hê một cách quá đáng và, một số “chạy cờ,” (theo cách nói của nhà thơ Nguyên Sa,) đắc chí a dua…

Cũng thế, một nhà văn trẻ thuộc thế hệ tỵ nạn, ở hải ngọai, đã viết xuống rằng, nếu phải đọc 1,000 câu thơ của nhà thơ X. để tìm cho bằng được một câu thơ hay của tác giả này, thì vất vả quá cho người đọc!

May mắn thay, nhà văn Dương Nghiễm Mậu không bị “lãng quên.”
Nhưng trong suốt hai mươi năm văn chương miền Nam, ông đã bị nhìn như một nhà văn lớp sau, so với lớp trước, là những tác giả có tác phẩm xuất bản sớm hơn ông vài năm. Ông cũng bị xếp hạng hai, sau một vài nhân vật mà, vì tế nhị(!) vì nhu cầu “cân bằng” nguồn gốc nam, trung, bắc… dư luận đã được “định hướng” để công nhận vai trò “thủ lãnh” của mấy nhân vật này.

Tôi cho rằng, khi cùng chung một giai đoạn văn chương, một thời kỳ văn học, thì, vị trí một tác giả không phải là tuổi tác, thời gian tác phẩm được ấn hành mà, nó phải y cứ trên giá trị tự thân của tác phẩm ấy.

Khi nói về giá trị tự thân một tác phẩm, người ta phải căn cứ trên những tiêu chí hay chuẩn mực nào? Tùy mỗi cách nhìn, mỗi quan niệm mà, người ta có thể đưa ra những tiêu chí, những chuẩn mực khác nhau.

Cá nhân tôi, tôi muốn chọn hai tiêu chí, hay hai chuẩn mực chính, đó là: Hình thức và nội dung.

Tôi vẫn nghĩ, giá trị sự nghiệp văn chương của nhà văn Mai Thảo không nằm nơi nội dung. Nó không lớn, không mới về phương diện tư tưởng hay triết học. Nhưng về hình thức cấu tạo câu văn của ông, phải nói là rất mới. Ông có công lớn, rất lớn khi thay đổi vai trò một chữ và, đảo lộn những quy định căn bản về văn phạm của một mệnh đề.

Trước ông, tôi chưa thấy tác giả nào xử dụng một tính từ, một động từ, như một danh từ. Ông là người đầu tiên sử dụng cụm từ “ném một cái nhìn…”

“Nhìn” là động từ (verb). Nhưng trong cụm từ “Ném một cái nhìn” thì “nhìn” đã trở thành danh từ (noun).

Về sự phá bỏ cấu tạo một câu văn trên căn bản văn phạm cũ, cách đây nhiều chục năm, ông đã viết:

“Trước. Bây giờ. Lời nói như một vô tình đụng chạm tới một thương tâm dấu kín khiến Huấn muốn nổi khùng lên…” (1)

Chúng ta cùng biết rằng hai chữ “trước”’ và “bây giờ” vốn là trạng từ (adverb) – – Tiếng chỉ trạng thái. Nó không thể làm chủ từ cho một câu và, càng không thể đứng một mình, như thể đó là một mệnh đề độc lập! Vậy mà Mai Thảo đã dùng. Rất nhiều người theo cách viết mới của ông. Mặc dù cũng không ít người dị ứng với văn phong mới mẻ đó. Nhưng, cách gì kiểu hành văn này, cũng đã trở thành một hình thức viết mới.

Về nội dung, tôi nghĩ, muôn đời nhà văn không ai ra khỏi những đề tài trực tiếp liên hệ tới con người, như sống, chết, đau khổ, hạnh phúc, hạnh ngộ, chia lìa, nghèo đói, tật bệnh, chiến tranh, tự do và độc tài, nhân quyền và chuyên chế… Và, những vấn đề mang tính triết học, siêu hình, với những câu hỏi căn bản như: Con người từ đâu đến? Chết đi về đâu? Hoặc đâu là tương quan giữa nhân lọai và tín ngưỡng? Thượng đế và con người? Vân vân…

Từ đó, tôi nghĩ, mức độ để người đọc đánh giá độ lớn, tầm cao của một nhà văn, căn cứ theo nội dung là cách dựng truyện, cách đặt vấn đề, cũng như không khí truyện thế nào (?), ra sao (?); để độc giả không cảm thấy phảng phất hơi hướm của tác giả này, hình bóng tác giả kia. Làm sao, cách nào, để người đọc không bị gặp lại ý tưởng đã được cầu chứng của nhà văn X; xung đột tâm sinh lý vốn là thẻ nhận dạng của nhà văn Y…

Nói tóm gọn, nó phải khác, lạ. Phải mới. Nó có thể cũng là những lò than hồng, nhưng cháy theo cách của nó. Ngọn lửa nám, phỏng da thịt ta, cũng là cái nám, phỏng khác. Tôi nghĩ chỉ những tài năng văn chương lớn, mới có thể làm nám, phỏng tâm hồn người đọc, theo cách riêng của họ mà thôi.

Lại nữa, vẫn theo tôi, việc đeo đuổi ý thức tranh đấu cho một lý tưởng nào đó trong phạm trù nhân sinh của một nhà văn, không chỉ xuất hiện thoáng qua trong một tập truyện mà, nó phải thuần nhất, phải xuyên suốt gần như toàn bộ sự nghiệp văn chương của nhà văn ấy.

Nhìn như thế, ở góc độ này, khi những vang động sâu xa, tốt đẹp cũng như lòe lọet phấn son, chiêng trống ồn ào của 20 năm văn chương miền Nam, đã lùi sâu, đã quá khứ, với tôi, Dương Nghiễm Mậu, nếu không phải là nhà văn lớn hơn bất cứ một nhà văn miền Nam nào cùng thời, thì chí ít, ông cũng là nhà văn hàng đầu. Ông không phải là nhà văn lớp sau; nhà văn hạng nhì của giai đoạn văn học ông đã hiện diện.

Sau này, đôi ba nhà phê bình nhìn lại Dương Nghiễm Mậu, có phần trân trọng hơn với ông. Nhưng họ vẫn nhìn ông theo thói quen liên tưởng tới một số tác giả tây phương. Có người nói rõ rằng, thành tựu của thế giới văn chương Dương Nghiễm Mậu được xây dựng từ những ảnh hưởng các trào lưu văn học tây phương – – Căn cứ vào sự phong phú của sách báo ngoại quốc mà, các nhà văn miền Nam được thụ hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các bản dịch.) Như thể nếu không có những tác giả tây phương kia, nếu không có những bản dịch nọ, thì văn học Việt Nam khó có thể có một Dương Nghiễm Mậu, như ông đã là…?

Ghi nhận này, có thể đúng với nhiều người. Nhưng sai, chí ít cũng với Dương Nghiễm Mậu.

Mọi so sánh, đối chiếu, theo tôi, chỉ thực sự có ích, một khi nó chỉ ra được tương đồng và dị biệt giữa tác giả này với tác giả khác. Nếu không, nó chỉ có tính cách biểu kiến. Vì một lý do dễ hiểu: Những tác giả tây phương nọ, không hề sống, hít thở, chìm, nổi, dập, vùi trong ghềnh, thác sinh mệnh miền Nam xuất huyết, bất hạnh, 20 năm, nói riêng; và lịch sử Việt Nam, nửa thế kỷ qua, nói chung.

Tôi nghĩ, một nhà văn thường bị hai lực chi phối chính. Lực chi phối chiều dọc: Những người đi trước. Lực chi phối chiều ngang: Những người đồng thời. Nhưng một tài năng lớn, một nhà văn ngoại khổ, là nhà văn sớm tách, lìa khỏi mọi từ trường, lực hút của kẻ khác. Đồng thời, nhà văn đó phải phản ảnh được thời đại, hoàn cảnh xã hội mà ông ta đã sống.

Với tôi, Dương Nghiễm Mậu là một nhà văn lớn. Trước, sau ông vẫn cho thấy những bi kịch xã hội trên những trang văn đau đáu nhân sinh của ông, để tự thân chúng, bật lên cái ý thức khẩn thiết đòi quyền sống căn bản. Quyền tự do vằng vặc, cho một con người.

Tôi vẫn nghĩ, yếu tố ắt có và đủ cho một nhà văn, là tài năng và ý thức. Kế tiếp, người ta cũng có thể căn cứ trên “nước rút và đường trường” để khẳng định mức lớn của tài năng đó. Nhìn lại lịch sử 20 năm văn học miền Nam, (thậm chí cả mấy chục năm văn học tiền chiến,) có những tác giả lóe sáng ở bước khởi đầu, để rồi không lâu sau, ngúm tắt. Nhưng Dương Nghiễm Mậu thì khác. Ông có được cho ông: Nước rút lẫn đường trường.

Ở giai đoạn khởi hành, ông đã bứt phá, bỏ đám đông đồng hành, phía sau. Từ đó, tới nay, lực sáng tác, độ sâu tư tưởng của ông càng thăm thẳm. Những mạch nước ngầm nhân bản, chảy sâu lòng đất xã hội nơi ông, vẫn không hề đổi dòng hay, ngưng chảy sau biến cố tháng 4-1975.

Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại làng Mậu Hòa, (quê ngoại làng Dương Liễu,) huyện Đan Phượng, phủ Hòa Đức, tỉnh Hà Đông.

Trước khi lấy các chữ “Mậu” từ làng Mậu Hòa, lấy “Dương,” từ làng Dương Liễu và, chữ “Nghiễm” từ tên gọi theo khai sinh, để trở thành bút hiệu Dương Nghiễm Mậu, Phí Ích Nghiễm đã có một thời gian dùng bút hiệu Hương Việt Hương.

Nhà văn Nguyễn Thụy Long, trong hồi ký “Thuở mơ làm văn sĩ” (2) cho biết, với bút hiệu Hương Việt Hương, Phí Ích Nghiễm đã có nhiều truyện ngắn, cũng như truyện dài đăng trên một số tuần báo ở Saigòn kể từ 1955, khi ông theo gia đình di cư từ Bắc vào Nam.

Cũng trong hồi ký của mình, Nguyễn Thụy Long cung cấp thêm một số chi tiết đời thường của Dương Nghiễm Mậu, như, đầu thập niên 1960, vì muốn rời bỏ Nha Trang, không muốn tiếp tục lệ thuộc gia đình sau khi thi tú tài nhiều lần không đậu, Dương Nghiễm Mậu viết thư gửi Lý Hoàng Phong, xin làm việc cho tờ Văn Nghệ. Không ngờ người đứng đầu tạp chí này, nhận lời ngay.

Về giai đoạn thay đổi bút hiệu, từ Hương Việt Hương, thành Dương Nghiễm Mậu, nhà văn Mai Thảo cho biết, ông là người đầu tiên giới thiệu với độc giả tạp chí Sáng Tạo, bút hiệu mới mẻ đó.

Trong tác phẩm “Chân dung 15 nhà văn nhà thơ Việt Nam,” do nhà Văn Khoa, ở California, ấn hành năm 1985, nhà văn Mai Thảo kể, một hôm ông ghé thăm, ngồi chờ người bạn làm việc tại một tòa soạn, “buồn tay” ông nhặt trong thùng rác, những sáng tác bị người bạn này vứt bỏ. Trong số những bài bị loại, có truyện ngắn “Rượu chưa đủ,” với bút hiệu xa lạ: Dương Nghiễm Mậu. Bị chấn động ngay tự những dòng chữ đầu dẫn vào tác phẩm, với tinh thần liên tài, Mai Thảo xin bạn cho ông được giữ sáng tác đã bị vứt bỏ kia, để:

“…đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. (3) Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc óng ánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu…” (Chân dung…, trang 85.)

Diễn đàn bạn mà tác giả “Đêm giã từ Hà Nội” nhắc tới là nhật báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các. Người bạn “chỉ biết thấy giá trị của những tác giả đã thành danh” đó là nhà văn Thanh Tâm Tuyền. Cho tới khi nhớ lại, viết xuống những kỷ niệm với Dương Nghiễm Mậu, có dễ nhà văn Mai Thảo vẫn không hề biết rằng, với bút hiệu Hương Việt Hương trước đó, họ Phí đã là một tác giả quen thuộc trên các diễn đàn văn nghệ khác?

Tính tới 30 tháng 4 năm 1975, Dương Nghiễm Mậu đã xuất bản trên, dưới 20 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài, bút ký…Trong số này, những tập truyện như, “Cũng đành,” “Nhan sắc,” “Ngã đạn;” những truyện dài như “Gia tài người mẹ,” “Đêm tóc rối,” “Tuổi nước độc;” hoặc bút ký “Địa ngục có thật”… được nhiều người yêu thích.

Theo trang nhà E Văn ở Việt Nam kể, từ năm 1977 tới nay, nhà văn Dương Nghiễm Mậu sống bằng nghề vẽ tranh sơn mài. Năm 2007, công ty văn hóa Phương Nam ở Saigòn, đã tái bản 3 tập truyện “Cũng đành,” “Đôi mắt trên trời,” “Nhan sắc” và, tập thứ 4, “Tiếng sáo người em út,” gồm một số truyện ngắn ông viết đã lâu, trước đó.

Vẫn theo E Văn, Dương Nghiễm Mậu là một trong rất ít nhà văn miền nam, có tên trong “Từ điển văn học” do nhà Thế Giới ở Hà Nội xuất bản. Nhưng ngay khi 4 tác phẩm kể trên vừa phát hành, ông đã bị một số tờ báo ở Saigòn tấn công một cách thô bạo – – Đưa tới tình trạng nhà xuất bản phải thu hồi tất cả tác phẩm của ông khỏi các kệ sách. Nhưng khi được hỏi thăm, tác giả “Nhan sắc” không đáp. Ông chỉ mỉm cười!

Những ai từng giao tiếp với nhà văn Dương Nghiễm Mậu hẳn không thể quên nụ cười luôn nở trên gương mặt của ông.

Nụ cười mà, tôi muốn gọi là “Nụ-cười-Dương-Nghiễm-Mậu.”

Có người cho rằng, đó là một nụ cười trẻ thơ, tinh nghịch. Người khác kết luận, đó là nụ cười hài hước, phúng thích. Những người gần gũi với thiền tông, lại thấy đó là nụ cười “an bần lạc đạo.”

Mọi ghi nhận về nụ cười đặc biệt của họ Phí, tôi cho đều hữu lý. Ngay cả khi ai đó, có đơn giản ghi nhận rằng, nó thuần túy chỉ là một nụ cười. Một nụ cười không nhất thiết phải kèm theo nó, một ý nghĩa. Kết luận ấy, theo tôi, cũng có chỗ…diệu dụng của nó.

Tôi nghĩ phần “diệu dụng” của nụ cười Dương Nghiễm Mậu đã giúp ông không ít, trong thời gian bị giam cầm tại nhà tù Phan Đăng Lưu, Gia Định, sau biến cố tháng 4-1975.

Nhà văn Mai Thảo, trong tác phẩm đã dẫn (cuốn “Chân dung 15 nhà văn nhà thơ Việt Nam,”) kể đầu năm 1976, khi nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội mở cuộc bố ráp văn nghệ sĩ miền Nam, đương nhiên, họ không để lọt lưới tác giả “Tuổi nước độc.”

Mai Thảo viết:

“… Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lãnh chói lòa. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong một nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và sự trẻ trung đặc biệt gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt vời của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.” (…)

“Bạn hữu còn kể ít nhiều về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nẩy, Mậu vắn tắt khuyên: ‘Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ’, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của ‘anh’ Dương Nghiễm Mậu.” (…)

“…Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọc rác và đã đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông núi quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.” (Mai Thảo, Chân dung…tr. 87, 88.)

Mới đây, có người hỏi tôi, nếu không có “mắt xanh” Mai Thảo, liệu hôm nay chúng ta có Dương Nghiễm Mậu? Câu trả lời không ngập ngừng của tôi là: Vẫn có.

Tôi nghiệm thấy, mỗi giai đoạn lịch sử ngặt nghèo, thường nẩy sinh một số định-mệnh-lớn. Những cá nhân được định mệnh chọn, để trở thành tấm gương phản ảnh từng lãnh vực của lịch sử giai đoạn đó. Họ là những cá nhân mà, ngay tự điểm xuất phát, đã cho thấy tính cách điển hình, dẫn đường của họ.

Dương Nghiễm Mậu với “Rượu chưa đủ,” ở Sáng Tạo, chỉ là bước đi tiếp của Hương Việt Hương, ở những năm, tháng trước đó, trên những diễn đàn khác.

Nhìn lại sinh hoạt văn chương của miền Nam cuối thập niên 1950, ta sẽ thấy, giữa khi những đồng hành với Dương Nghiễm Mậu, còn rờ rẫm, tìm hiểu hoặc , loay hoay bắt chước những trường phái văn nghệ đã sớm bị vượt qua ở ngay nơi chúng được khai sinh, thì Dương Nghiễm Mậu đã trầm tịnh chọn lấy cho mình một hướng đi. Một ý thức văn học bất khả suy, chuyển.

Có thể nói mà, không sợ quá lời rằng, ông đã lầm lì một cách nhất quán, tự cách ly khỏi khu rừng chộn rộn phong trào, lý thuyết…bằng tài năng và, nhận thức hải đăng tự thân của mình.

Trong môi trường rổn rảng, lập lòe thời thượng kia, những trang văn Dương Nghiễm Mậu đã hiện ra chói, gắt từng con chữ trên những kênh, mạch truyện ngắn, truyện dài. Ông xác quyết, tự do là nguyên lý tồn tại của con người. Nhân bản là lần ranh phân chia nhân loại với cầm thú.

Tôi cho rằng, định mệnh lớn đã đến với Dương Nghiễm Mậu, ngay tự những dòng chữ thứ nhất. Và, song sinh cùng những dòng chữ thứ nhất kia, là nhân cách Phí Ích Nghiễm.

Tôi không nghĩ người đọc, hôm nay, lịch sử văn học, ngày mai, đòi hỏi một điều gì nơi nhà văn, khác hơn giá trị nội tại của tác phẩm.
Nhưng, nếu một tài năng (như tài năng Dương Nghiễm Mậu,) song sinh với một nhân cách, (như nhân cách Dương Nghiễm Mậu) thì, nó mặc nhiên trở thành tấm gương hai mặt, vằng vặc. Sáng.

Với cá nhân tôi, ông là tấm gương hai mặt đó.

DU TỬ LÊ

(21-8-09)
____________
Chú thích:

(1) Trích “Ngọn hải đăng mù,” tập truyện Mai Thảo. Làng Văn xuất bản, 1986, Tr. 49

(2) Nhà Tuổi Xanh, California, xuất bản năm 2000.

(3) Nhà thơ Thành Tôn cho biết: (a) Đó là tờ Sáng Tạo số 28 và 29, đề tháng 1 & 2-1959 – chủ đề “Giai phẩm Mùa Xuân Kỷ Hợi.” (b) Hai số sau, tức Sáng Tạo số 31, đăng truyện ngắn thứ nhì của Dương Nghiễm Mậu, nhan đề “Tiếng nói”…

Dương Nghiễm Mậu không chỉ là nhà văn hàng đầu của 20 năm văn chương miền Nam; trong đời thường, về phương diện nhân cách, ông cũng cho thấy ông biết mình là ai. Sống thế nào. Ra sao…để tương, thích với vai trò kẻ sĩ miền Nam, nhất là những lúc ông bị dập vùi tận đáy địa ngục.

Tác giả thi phẩm “Huyết âm,” nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ kể, đầu năm 2009 vừa qua, nhân dịp về Saigòn giải quyết việc gia đình, ông ghé thă tác giả “Cũng đành.”

(4) Thời gian này, cũng là thời gian Dương Nghiễm Mậu đang bị những ngọn roi mặc cảm thấp hèn, thù hận mông muội, quất, vụt lên thân thế cũng như những sáng tác của ông, do công ty Phương Nam tái bản.

……………………………………………………………………………………….

Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du
Nguồn: Ngô Thế Vinh – 2015-02-20 -RFA

Dương Nghiễm Mậu gẫy chân, ngồi cười trước tủ sách, hai tay tựa trên walker, chụp tháng 9/2006
Photo by Ngô Thế Vinh

“… Kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc Ký.” Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu, 2005.

1975_ Bùi Giáng và Dương Nghiễm Mậu

Sau 30 tháng 4, 1975 các văn nghệ sĩ không đi thoát, hoặc chọn ở lại như Dương Nghiễm Mậu, nếu không phải đám nằm vùng thì ai cũng chờ cái ngày đi vào nhà giam, các trại tù cải tạo. Giữa những ngày căng thẳng và ảm đạm ấy, có một người vẫn nhởn nhơ, đi tìm thăm bạn bè văn nghệ cũ. Không ai khác hơn đó là nhà thơ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn. Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già hơn tuổi, râu tóc sơ sác như từ bao giờ. Giữa một Sài Gòn thảng thốt, không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục nguỵ với quân hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn toàn rã ngũ. Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu, không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường “trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử” và để rồi sau đó nếu anh không bị đám “cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng nàng.

1975_ Toà Soạn Bách Khoa và anh Lê Ngộ Châu

Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm toà soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến Bắt Trẻ Đồng Xanh ngồi chung với Vũ Hạnh Bút Máu; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn.

Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến Giã Từ, Lê Tất Điều Phá Núi, Viên Linh Hoá Thân, Tuý Hồng Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Thanh Nam Bóng Nhỏ Đường Dài từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc. Cùng với những con tàu thuộc Đệ Thất Hạm đội, họ lênh đênh trên Biển Đông trong cuộc hải trình nhiều ngày để tới đảo Guam. Guam đã từng là căn cứ xuất phát của các đoàn phi cơ B52 trong cuộc chiến tranh Việt Nam với những trận mưa bom trải thảm/ carpet bombing có sức tàn phá của một cơn địa chấn. Đảo Guam chỉ rộng 550 km2 sau tháng Tư 1975, là chặng dừng chân đầu tiên của hàng trăm ngàn người Việt tỵ nạn trước khi vào đất Mỹ. Vũ Khắc Khoan Thần Tháp Rùa, Nghiêm Xuân Hồng Người Viễn Khách Thứ 10, Mặc Đỗ Siu Cô Nương nhóm Quan Điểm cũng đi thoát và trước sau đặt chân tới các trại tỵ nạn trên đất Mỹ.

Chưa đến một tuần lễ sau, ngày 5 tháng 5, 1975 một trong những cây viết lâu năm của Bách Khoa, Phạm Việt Châu Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã tuẫn tiết tại tư gia khi cộng sản hoàn toàn chiếm Miền Nam. Cái chết rất sớm và tức tưởi của một tác giả có viễn kiến về lịch sử dân tộc, sức sáng tạo đang sung mãn mới bước vào tuổi 43, đã như một hồi chuông báo tử cho bao nhiêu tang thương diễn ra sau đó.

1975_ Chiến Dịch Đốt Sách

Những ngày sau 30 tháng 4, 1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới toà báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: “Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.” Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là nguỵ. Những tên nằm vùng cùng với đám “cách mạng 30” này chỉ như phó bản đám Hồng vệ binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần kích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ, chúng dẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả tới những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách “Học Làm Người”. Sách của những “tên biệt kích văn nghệ” còn được trưng bày trong toà nhà triển lãm Tội ác Mỹ Nguỵ cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết.

Cảm khái với câu thơ Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kí: văn chương vô mệnh cũng tro than/ văn chương vô mệnh luỵ phần dư. Hơn hai ngàn năm sau, chẳng ai quên chuyện “đốt sách chôn nho/ phần thư, khanh nho” của Tần Thuỷ Hoàng, nhưng không biết chỉ 100 năm tới đây, các thế hệ tương lai có ai còn giữ được“bộ nhớ” Đã Có Một Thời Như Thế – tên một bài viết của Nhật Tiến, về giai đoạn người Cộng sản Việt Nam đốt sách giam tù cả một thế hệ văn nghệ sĩ của Miền Nam?

1975_ Nhà hàng Givral và Phạm Xuân Ẩn

Trước 1975, La Pagode, Brodard, Givral là nơi tôi, Phạm Đình Vy [chủ nhiệm Tình Thương] và các bạn y khoa thỉnh thoảng có dịp lui tới kể cả khi đã ra trường. Givral cũng là nơi thường gặp gỡ các nhà báo như Phạm Xuân Ẩn, Cao Giao, Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến… Phạm Xuân Ẩn, là bạn đồng môn với nhà văn Sơn Nam thời trung học Cần Thơ, Ẩn gốc người Nam dáng chân quê mộc mạc. Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn chỉ được biết tới như phóng viên của Reuters, sau đó chuyển sang tuần báo Times, trụ sở trong Continental Palace bên kia đường. Cũng không thể không nhắc tới khách sạn Caravelle, gần toà nhà Quốc hội cũ, nơi tập trung đông đảo nhà báo ngoại quốc, nơi đặt văn phòng của các hãng thông tấn và truyền hình Mỹ như ABC, NBC, CBS… Cũng chính Morley Safer trong một buổi phát hình CBS Evening News ngày 5 tháng 8, 1965 chiếu cảnh lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong cuộc hành quân xua dân ra khỏi làng và sau đó bật quẹt Zippo đốt nhà của họ, những hình ấy đã làm rúng động Toà Nhà Trắng và cả nước Mỹ như một vết hằn sâu của một cuộc chiến bắt đầu thất nhân tâm. Bảy năm sau, Nick Ut phóng viên AP với bức hình “Napalm Girl” chụp trong trận giao tranh Trảng Bàng Tây Ninh ngày 8 tháng 6, 1972, cũng là thời điểm Quốc Hội Mỹ dứt khoát cắt viện trợ quân sự cho Miền Nam.

Đội quân báo chí hùng hậu ấy, trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, có khả năng điều kiện hoá dư luận với “những tin tức xấu từ một phía”, đủ làm nản lòng dân Mỹ, cùng với đám GI’s đang cầm súng từ phía bên kia nửa vòng trái đất; truyền thông Mỹ có phần công lao không nhỏ gián tiếp đưa tới mất Miền Nam Tự Do và cũng là một thất trận đầu tiên trong lịch sử các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ. Và rồi, tất cả bọn họ cũng đã kịp tháo chạy trước khi Sài Gòn đổi chủ.

Và rồi mấy ngày đầu tháng 5, 1975, Givral lại như điểm hẹn của những người bạn còn kẹt lại, tới đó để biết ai ở ai đi và nghe ngóng tin tức. Từ những chiếc bàn nhìn qua khung kính trong suốt ấy, tình cờ gặp lại Phạm Xuân Ẩn. Ẩn cũng đã từng tới thăm toà soạn báo sinh viên Y khoa Tình Thương trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày nào. Vợ con Phạm Xuân Ẩn đã được tuần báo Times cho di tản trước đó nhiều hôm, nhưng Ẩn thì ở lại. Với hơi chút ngạc nhiên và vẻ quan tâm, Ẩn hỏi tôi: “Vinh, tại sao toa không đi?” Lúc đó chỉ như một câu hỏi xã giao, nhưng phải sau này, khi đã ở trong vòng rào các trại tù cải tạo, tôi mới thấm thía vỡ lẽ được câu hỏi ấy của Phạm Xuân Ẩn, nó đã như lời báo bão về những năm tháng tù đầy từ một chính sách mà Ẩn thì biết rất rõ. Trong vỏ bọc của một nhà báo làm cho tuần báo Times danh tiếng của Mỹ, thực chất trước đó nhiều năm Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên chiến lược đơn tuyến của Cộng sản Hà Nội. Sau này cũng chính Phạm Xuân Ẩn tâm sự với Morley Safer chương trình 60 Minutes của CBS rằng khi Sài Gòn xụp đổ không dễ gì để nói với đám “cách mạng 30” đeo súng AK lúc đó rằng, tôi là đại tá quân đội của họ, không phải CIA. Có thể tôi bị tụi nó giết và cả con chó của tôi cũng bị nướng sống. [Flashback, Vietnam Revisited 1989, The Spy in Winter]

1975_ Nhà báo Như Phong

Chỉ sau cụ Hoàng Văn Chí Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, người hiểu rõ cộng sản sau này không ai hơn nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến. Cô Thần cũng là bút hiệu khác của Như Phong Khói Sóng trên nhật báo Tự Do, một chuyên mục viết về cộng sản Miền Bắc. Hiểu cộng sản như vậy, với biết trước những tháng năm tù đầy, vậy mà anh vẫn chọn ở lại. Gặp lại anh tại nhà luật sư Mai Văn Lễ, trước bệnh viện Sùng Chính trên đường Trần Hưng Đạo. Anh Mai Văn Lễ có một thời làm Khoa trưởng Luật khoa Huế thời Phật giáo Tranh đấu, bây giờ chỉ còn lại mình anh, chị và hai con thì đã đi trước đó một tuần lễ.

Trưa ngày 30 tháng Tư, ngay sau khi lệnh đầu hàng được phát đi, có thể thấy từ mấy tầng lầu cao là một cơn mưa confetti, chỉ một màu trắng của những mảnh vụn giấy tờ tuỳ thân của quân cán chính cần được xé huỷ trước khi cộng quân hoàn toàn kiểm soát Sài Gòn. Không kể những giày nón quân phục được cởi bỏ vội vàng vứt tả tơi trên đường phố. Là người đi trước thời cuộc, anh Như Phong tiên đoán đúng những gì sắp diễn ra: chiến dịch đánh tư sản, kế hoạch đổi tiền cho mỗi hộ khẩu và rồi những cuộn giấy bạc sau đó trở thành rẻ rách và rồi sẽ là quần đảo ngục tù / Gulag Archipelago một tên sách của Solzhenitsyn. Dư tiền cũ thiên hạ đổ xô đi mua vàng, đôla chợ đen không dễ gì có trong thời điểm này. Anh Như Phong thì chỉ gợi ý mua những cuộn len quý nhồi trong các bộ nệm sa lông giống như ngoài Bắc, sau này khi cần có thể gỡ dần ra bán để kiếm sống. Nói vậy thôi chứ thái độ của cả mấy anh em vẫn là “chờ xem”.

Và rồi vang lên tiếng xích sắt nghiến trên mặt nhựa, nhìn qua khung cửa là những chiếc tăng T54 treo cờ giải phóng hối hả chạy về phía trung tâm Sài Gòn.

1980_ Cũng đừng tới thăm

Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã đổi khác. Nếu còn chút gì thân quen thì là mấy người bạn, không nhiều còn ở lại. Anh ấy là một trong những cố tri đầu tiên tôi nghĩ tới thăm. Là giáo sư đại học, anh tốt nghiệp ở Mỹ, trở về Việt Nam từ cuối thập niên 1960, đầy lý tưởng, ôm mộng lớn về một cuộc cách mạng xã hội – theo anh công bằng xã hội/ social justice phải là giải pháp rốt ráo cho một cuộc chiến tranh bế tắc đang diễn ra khốc liệt giữa hai miền Bắc Nam. Tôi cũng đã từng gặp anh ở Mỹ và cả những năm sau này ở Việt Nam. Sự xụp đổ mau chóng của Miền Nam với anh là cả một “giấc mộng lỡ”. Tuy không phải chịu những năm tháng tù đầy, nhưng cuộc sống gia đình anh, cũng như cả Miền Nam rõ ràng là khó khăn. Từng bước, anh đã bán những bộ tự điển quý lúc đó rất có giá, cho đám học giả đói sách từ Bắc vào mua; tiếp đến là đồ đạc tranh tượng, cuối cùng là còn lại là một tủ sách khoa-học-xã-hội đồ sộ mà anh đem từ Mỹ về thì nay trở thành vô giá – no value, chỉ có thể đem cân ký bán lạt-son để làm bột giấy. Vợ anh là cô giáo cũng phải ra giữa chốn chợ trời tần tảo kiếm sống. Anh thì quá nhậy cảm để thấy nỗi đau và nhục.

Gặp lại anh, vẫn nét mặt trí thức và đôn hậu như ngày nào, nhưng trong ánh mắt thì lộ rõ vẻ bất an. Thoáng nét vui mừng nhưng anh kịp kìm hãm, vừa nói vừa canh chừng nhìn ra cửa : “Biết toa được ra trại thì mừng nhưng cũng xin toa đừng tới thăm”. Sự thẳng thắn rất trực tiếp của anh, thoáng như một gáo nước lạnh, nhưng tôi cảm thông và vẫn rất thương anh. Gia đình bên vợ anh ở Mỹ đang làm thủ tục bảo lãnh, nghĩ rằng việc có liên hệ với lính nguỵ với tù cải tạo có thể là cản trở cho cuộc hành trình hy vọng của gia đình anh tới bến bờ tự do ấy. Anh phản ứng theo hoàn cảnh, không chút phán đoán tôi vẫn dành cho anh sự kính trọng, và mai mốt đây nếu có ngày gặp lại anh thì chắc chắn phải là trên một lục địa khác. Rất sớm trên toàn Miền Nam đã bắt đầu có một mạng lưới tai mắt tổ dân phố và công an đủ để gây hoài nghi và cả sự sợ hãi.

Ra khỏi nhà anh, có lại được niềm vui ấm lòng khi gặp người bạn tấm cám Nghiêu Đề. Nghiêu Đề cho biết mới gặp Sao Trên Rừng đi xe gắn máy từ Đà Lạt xuống, ngạc nhiên thấy Nguyễn Đức Sơn lần đầu tiên ăn vận đồ lớn complet cravate, hỏi tại sao thì Sơn cười giọng khinh mạn: “có vậy mới khỏi lẫn với tụi nó”.

1980_ Trần Phong Giao ngoài chợ

Trần Phong Giao dáng vạm vỡ, da sậm có vẻ công nhân lao động ngoài nắng hơn là người làm việc chữ nghĩa văn phòng. Nổi tiếng là thư ký toà soạn báo Văn trong 8 năm từ 1963 tới 1971, một tờ báo có vị trí đặc biệt trong sinh hoạt văn học Miền Nam với phát hiện những cây bút mới và không ít sau này đã trở thành những tên tuổi. Sau Văn, anh thử làm nhiều công việc khác cũng trong lãnh vực báo chí, xuất bản, rồi thủ thư nhưng đã không để lại nhiều dấu ấn như ở Văn. Không lâu sau 30 tháng 4, cả hai anh chị đã phải chạy chợ kiếm sống với chiếc xe ba bánh, đậu trên đường Lê Thánh Tôn đứng bán từng bó củi, mấy nải chuối hay những bó rau tươi để nuôi đàn con. Ngày ra tù, tới thăm anh, vẫn ở trong con hẻm gần Cầu Kiệu, bên Tân Định, anh gầy sút đi nhiều hai chân đã rất yếu. Gia tài của anh đáng giá vỏn vẹn còn một tủ sách, quý nhất là trọn bộ báo Văn đóng bìa da, một sự nghiệp của Trần Phong Giao nhưng rồi anh cũng đã không giữ được và phải đem bán cho một Việt kiều từ Mỹ về để có tiền chạy gạo và thuốc men. Trần Phong Giao mất trong sự túng quẫn và bạo bệnh (2005), anh cũng bước qua được ngưỡng tuổi cổ lai hy.

1981_ Và những bữa cơm gia đình

Ngôi nhà Nghiễm trong con hẻm với mặt tiền hẹp nhưng khá sâu. Nghiễm mặc quần soóc, áo thun trắng, đôi mắt rất tinh anh lúc nào cũng như mỉm cười, trông trẻ hơn tuổi của một người sinh năm 1936.

Tuy sống gần khu Chợ Cũ, sẵn những quán ăn vỉa hè và nhà hàng, rất tiện cho nếp sống cơm hàng cháo chợ, nhưng thường sau một ngày làm việc, thay vì về nhà tôi ghé nhà Nghiễm, được chị Trang vợ Nghiễm cho thêm chén thêm đũa với những bữa ăn đạm bạc nhưng ngon miệng vì là bữa cơm hạnh phúc gia đình. Trong tù, tôi và Nghiễm thì đã quen với những bữa ăn đói ngày đêm, ra ngoài tuy rau đậu nhưng cũng là bữa tạm no. Người lớn thì không sao, nhưng với trẻ nhỏ đang tuổi “mau ăn, chóng lớn” thì khẩu phần ấy phải xem là suy dinh dưỡng. Nếu không là ngày phải ra trễ, tôi ghé qua chợ mua một món ăn gì đó, đem tới bày thêm vào mâm cơm gia đình. Có thêm món thịt, thêm chút chất đạm thì hôm đó với hai đứa nhỏ như là bữa tiệc. Những lần gặp nhau, tôi và Nghiễm đều ít nói. Hình như Nghiễm có viết ở đâu đó là những điều không cần nói ra nhưng cũng đã hiểu nhau rồi. Chỉ có cô giáo Trang vợ Nghiễm sau một ngày dạy học mệt nhọc nhưng lúc nào cũng có đôi chuyện vui từ trường đem về gia đình. Miền Nam tài nguyên thì vẫn nguyên vẹn, nhưng đã có chính sách bần cùng hoá kiểm soát từng bao tử của người dân qua khẩu phần và sổ lương thực của họ.

1982_ Dương Nghiễm Mậu và một Thanh Tâm Tuyền khác

Đã gặp Thanh Tâm Tuyền ở những ngày 30 tháng Tư 1975 nơi một căn nhà nhỏ bên Gia Định. Vợ Tâm lúc đó cũng vừa sinh đứa con trai út trong cảnh tán loạn bệnh viện Nguyễn Văn Học. “Một Chủ Nhật Khác” cuốn tiểu thuyết cuối cùng của “một thời để yêu một thời để chết” cũng vừa mới in xong, chưa kịp phát hành. Ra tù 1982, gặp lại Thanh Tâm Tuyền của Bếp Lửa, bằng tuổi Dương Nghiễm Mậu nhưng trông anh già hơn nhiều, da sậm đen sắc diện của một người bị bệnh sốt rét kinh niên. Khó có thể tưởng tượng với vóc dáng mảnh mai ấy anh sống sót qua suốt bảy năm tù đầy ngày nào cũng đói lạnh nơi những vùng sơn lam chướng khí ấy ở các trại giam Miền Bắc. Bảy năm đốn tre trảy gỗ trên ngàn, bị tre nứa đâm xuyên đùi không giải phẫu thuốc men nhưng anh vẫn sống sót, trong tù chống rét anh tập hút thuốc lào, không giấy bút anh vẫn làm thơ qua trí nhớ nhưng là những bài thơ trở về với các thể thơ truyền thống. Thơ ở Đâu Xa là tập thơ cuối cùng làm trong tù TTT cho xuất bản ở bên Mỹ (1990).

Trong một cuộc phỏng vấn rất hiếm năm 1993, Thanh Tâm Tuyền đã giải thích sự chuyển biến trong thi ca của anh:“Làm thơ trong trại cải tạo, cũng là trở về với thi ca truyền thống dân gian/ Faire de la poésie dans un camp de redressement, c’est aussi retourner à la poésie de tradition populaire.” [Thanh Tam Tuyen, la poésie entre la guerre et le camp; par Le Huu Khoa, Publications de l’Université de Provence]

Trong chỗ rất riêng tư, anh tâm sự: Thái Thanh bạn anh đã dứt khoát không hát từ sau 1975. Khi biết Thanh Tâm Tuyền vừa ra tù đến thăm, cô ấy cầm đàn và hát lại những bài thơ phổ nhạc của anh: Đêm màu hồng, Nửa hồn thương đau, Lệ đá xanh… tuy ấm lòng gặp lại cố tri nhưng rồi anh đã không còn nguyên vẹn cảm xúc để nghe lại những thanh âm ngày cũ. Anh đã nói không với những người mới muốn gặp anh. Anh vẫn giữ thái độ đó khi sang định cư ở Mỹ. Sự khép kín ấy khiến Mai Thảo đôi khi cũng phản ứng giận lẫy.

Rồi cũng có một buổi gặp gỡ cuối 1982, từ nhà Nghiễm có Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và tôi cùng đi bộ tới một quán cóc cũng trên đường Trương Minh Giảng nơi gần đường xe lửa. Thức uống của Nghiễm bao giờ cũng là một chai bia. Nhắc tới Tô Thuỳ Yên Trường Sa Hành thì vẫn còn ở trong tù. Rồi chẳng ai nhắc tới nỗi khổ hiện tại mà câu chuyện lại xoay quanh những người bạn may may mắn ở phương xa. Những người đi thoát trước 1975, vài tên tuổi được nhắc tới: Thanh Nam Tuý Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh… Nhưng rồi tên Mai Thảo Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời vẫn như điểm hội tụ của những tin tức. Anh là nhà văn duy nhất hiếm hoi thoát các vụ ruồng bắt của cộng sản trong suốt hai năm sống lẩn lút ở Sài Gòn. Vẫn có nhiều người liều mạng che chở cho anh. Trần Dạ Từ Tỏ Tình Trong Đêm cùng với rất nhiều nhà văn nhà báo thì đang trong tù, Nhã Ca Giải Khăn Sô Cho Huế ra tù sớm phải cưu mang một đàn con nhỏ nhưng cũng chính mấy mẹ con Nhã Ca đã bất chấp hệ luỵ cất dấu bác Mai Thảo trong nhà, một căn phố lầu trên góc đường Tự Do, đây cũng là chặng ẩn náu cuối cùng của Mai Thảo cho đến khi anh vượt biển rất sớm thoát được tới đảo Pulau Besar Mã Lai đầu tháng 12, 1977.

Hai năm sau Mai Thảo 1979, phải kể tới chuyến đi thừa sống thiếu chết của 81 thuyền nhân trong số đó có Nhật Tiến Người Kéo Màn và thầy Từ Mẫn Lá Bối, vợ chồng ký giả Dương Phục Vũ Thanh Thuỷ… và con tàu đã gặp nạn hải tặc Thái Lan trên biển rồi trên đảo Kra, và cũng rất sớm qua ngòi bút của người chứng Nhật Tiến đã ghi lại những thảm cảnh ấy và bắt đầu làm rúng động lương tâm thế giới. Cũng khởi đầu cho phong trào Cứu Người Vượt Biển về sau này.

Sau lần gặp gỡ nơi nhà Nghiễm, Thanh Tâm Tuyền chuẩn bị đi Mỹ theo diện HO, cho dù “tâm thái” – chữ của TTT, vẫn gắn bó với một quê hương mà anh không muốn xa rời, riêng tác giả Ba Sinh Hương Lửa lại vào tù tổng cộng 14 năm trước khi đi định cư 1995 và gặp lại Mai Thảo ở Quận Cam.
(còn tiếp)

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *