Chưa đầy 2 tháng sau cái chết của nhà thơ Hữu Loan (ngày 18 tháng 3 năm 2010), văn giới Việt Nam trong và ngoài nước, lại nhận được tin buồn: Thành viên cuối cùng của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, nhà thơ Hoàng Cầm, đã từ trần tại Hà Nội ngày 6 tháng 5 năm vừa qua, hưởng thọ 88 tuổi. (1)

Là một trong những kiện tướng của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, mấy năm cuối đời, nhà thơ Hoàng Cầm bị bại liệt sau một tai nạn té ngã. Tất cả mọi sinh hoạt của ông diễn ra trong một căn phòng nhỏ, trên tầng lầu thứ tư, ngôi nhà nằm sâu một con ngõ đường Lý Quốc Sư, Hà Nội.

Tùy trình độ, vị trí, cảm quan của mỗi người, cũng như tùy hoàn cảnh, tâm cảnh riêng mà ta có những đánh giá, kết luận về sự nghiệp thi ca, nhân cách đời thường của tác giả tài hoa này.

Dù vậy, về phương diện sáng tác, người ta vẫn có một số tiêu chí căn bản, để xét định giá trị một tác phẩm. Một sự nghiệp.

Những tiêu chí thông thường, phổ cập nhất là...

... sự quán chiếu trên hai yếu tố: Ý nghĩa hay “thông điệp” và cấu trúc xương sườn của tác phẩm ấy.

Ở cả hai lãnh vực vừa kể, yếu tố độ sâu rung cảm và tính mới lạ, là những thước đo nhiều thuyết phục nhất.

Một cách tổng quát, nhà thơ Hoàng Cầm là một tài năng đặc biệt của thi ca Việt Nam thời cận đại. Thơ của ông có được đỉnh cao chói lòa và độ sâu truyền bá.

Trước nhất, ngay tự bước khởi nghiệp thi ca của mình, với những vở kịch thơ như “Hận Nam Quan,” rồi “Kiều Loan,” phổ biến từ những năm giữa thập niên 1940, Hoàng Cầm không những đã xác lập cho mình, vị trí hàng đầu ở thể loại kịch thơ; mà ông còn đem những vòng nguyệt quế, những vương miện về cho thể loại thơ đó nữa.

Kế đến, tầm cỡ hay kích thước lớn lao của thơ Hoàng Cầm, nằm nơi những bài thơ dài hơi. Những trường khúc đòi hỏi tác giả những lao tác tinh thần và trí tuệ bền bỉ, như những tập-đại-thành hay tựa những cánh chim đủ năng lực xoải theo chiều dài chảy xiết và cuộn sóng những trường giang.

Tôi muốn nói tới những bài thơ trên dưới một trăm câu của ông. Những bài thơ như “Ðêm Liên Hoan,” “Bên kia sông Ðuống”...

Tôi muốn nói, những bài thơ của ông, tự thân có được những trái tim lớn như trái tim Việt Nam, thời đầu cuộc cách mạng kháng chiến chống Pháp.

Tôi muốn nói, những bài thơ của ông, tự thân có cùng nhịp thở bừng bừng lao tới của toàn dân: Sự đồng lòng xô sập bức tường nô lệ, rải máu mình trên từng thước đường giải phóng quê hương.

Nói thế, không có nghĩa, thi ca cận đại hay thời đầu của cuộc kháng chiến bi tráng kia, không có những bài thơ yêu nước khác.

Nhưng, sự khác biệt ở chỗ cường độ rung động, nhịp đập chân thiết tới nghẹn ngào của tình yêu ấy...

Ở điểm này, Hoàng Cầm không nói về tình yêu nước, mà thơ ông chính là tình yêu đất nước. Ðó là một tình yêu vàng ròng. Thuần khiết.

Chính tính vàng ròng, thuần kiết, chân thiết tới nghẹn ngào đó, của thơ Hoàng Cầm mà thơ ông trở thành những bó đuốc nồng nàn, cháy rát một niềm tin. Hoặc như những liều thuốc bổ cực mạnh, gia tăng nhiệt lượng yêu nước, thương nòi của thanh thiếu niên Việt Nam thuở ấy.

Những người tham gia kháng chiến giai đoạn đầu của cuộc tranh đấu dành độc lập cho Việt Nam kể rằng, mỗi khi bài “Ðêm Liên Hoan” của Hoàng Cầm được trình diễn trên sân khấu dã chiến ngoài trời, trong rừng sâu, thì cả ngàn người tham dự giống như nhập đồng. Họ, những người dự khán cuộc đọc thơ, trở thành hiện thân của chính bài thơ.

Họ, những người dự khán cuộc đọc thơ, đã cụ thể hóa ý nghĩa của bài thơ, ngay tự những câu thơ mở đầu bài thơ:

“Ðêm Liên Hoan! Trời ơi, đêm Liên Hoan!
Ðầu người nhấp nhô như sóng biển ngang tàng
Ta muốn thét vỡ toang lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Việt Chính Ðoàn.

- Anh từ phương nào lại?

- Tôi từ đất dấy lên...”

Câu hỏi “Anh từ phương nào lại”? Không là câu hỏi cho một người. Câu hỏi đó, cho mọi người.

Câu trả lời “Tôi từ đất dấy lên.” Không là câu trả lời của một người. Mà đó là câu trả lời của muôn người (như một.)

Cũng vậy. Những câu hỏi và những câu trả lời kế tiếp:

“- Anh từ đâu đến đó?

“- Tôi đi giết giặc đây.”

Rồi:

“- Gia đình anh ở đâu?

“- Mẹ hiền tôi đã khuất

“Nhưng trước khi nhắm mắt

“Mẹ mừng cho đàn con...”

Rồi nữa:

“- Anh giết bao nhiêu giặc mà mắt anh long lanh?

“- Mời anh lên rừng xanh

“Hỏi những cành lá biếc

(......)

“- Trong tiểu đội anh, những ai còn ai mất?

- Không, không ai còn ai mất!

“Ai cũng chết mà thôi!

“Kẻ trước người sau lao vào giặc

“Giữ vững ngàn thu một giống nòi”...

(Hoàng Cầm, “Ðêm Liên Hoan&rdquo wink

Tất cả vẫn là những câu hỏi, không cho một, mà hết thẩy mọi người.

Tất cả vẫn là những câu trả lời, không của một mà hết thẩy dân tộc.

Cả bài thơ được xây dựng trên một cuộc đối thoại phương cương, không chỉ giữa hai nhân vật mà giữa nhiều nhân vật. Những nhân vật cùng đi ngược cơn bão nô lệ, để làm nên những trang sử độc lập mới.

Nhìn lại lịch sử thi ca Việt Nam từ thời thơ chữ Hán, chữ Nôm tới thời thơ Tiền Chiến, nếu không kể những tiểu thuyết văn xuôi (mà chúng ta quen gọi là tác phẩm cổ điển văn vần) thì chúng ta có rất ít hình thái “đối thoại” trong thơ.

Ở bài thơ này, về phương diện cấu trúc, loạt “đối thoại” tôi vừa nêu ra là xương sống hay, cột chống nâng, dựng toàn bộ bài thơ, ngẩng mặt, ngạo nghễ đứng lên.

Trong một bài thơ khác, bài “Lá Diêu Bông,” tác giả “Ðêm Liên Hoan” cũng sử dụng hình thái “đối thoại” vốn là điểm mạnh của ông.

Mặc dù chúng không giữ vai trò “xương sống” hay “cột chống” nhưng, vẫn cần thiết, như những đáp số cụ thể, cho những ẩn số vốn huyễn tưởng là chân dung của bài thơ này.

(Có người ghi nhận rằng, nhà thơ Hoàng Cầm viết bài “Lá Diêu Bông” từ năm 1959, nhưng mãi nhiều năm sau, những người yêu thơ ông mới biết tới, nhờ sự “hiểu lầm” rồi dẫn tới việc phổ nhạc của nhạc sĩ Trần Tiến...)

Vỏn vẹn có 25 câu, không là những đối thoại trực tiếp; nhưng qua những cụm từ ám thị, như: “Chị bảo - Ðứa nào tìm được Lá Diêu Bông...” (2) Hay: “Chị chau mày - Ðâu phải Lá Diêu Bông...” (2) Hoặc nữa: “Chị lắc đầu - Trông nắng vãn bên sông” (2)... thì hình thái đối thoại gián cách này, vẫn cho thấy phần nào đặc tính thơ Hoàng Cầm vậy.

Tóm lại, với cá nhân tôi, bài “Ðêm Liên Hoan” của Hoàng Cầm, đã san bằng được khoảng cách giữa độc giả với chữ, nghĩa, tư tưởng... của tác giả.

Cũng như bài “Bên Kia Sông Ðuống,” hồn tính thi ca Hoàng Cầm nơi bài thơ vừa kể, tuồng đã nối, nhập được hồn tính thiêng liêng giữa người chết vào kẻ sống...

Nên, nó như ngọn cờ chung. Không đảng phái. Không chủ nghĩa. Không sắc mầu xanh, đỏ. No mang tính “duy nhất một ngọn cờ tổ quốc”!

Bước qua lãnh vực truyền bá thi ca thì chúng ta đừng quên rằng, tới cuối thập 1940, trong vùng kháng chiến, sự phổ biến một bài thơ là điều thậm khó khăn. Nó càng khó khăn hơn nữa, khi đó lại là những bài thơ dài hàng trăm câu!

Vậy mà, thơ Hoàng Cầm ở giai đoạn này, vẫn được những người đi kháng chiến chép tay. Và thuộc lòng.

Ở giai đoạn này, người ta cũng ghi nhận được sự kiện tương tự với một số thơ của Quang Dũng, Hữu Loan...

Nhưng, nếu thơ của Quang Dũng mang nhiều tâm sự cá nhân liên quan tới sinh quán hoặc Hà Nội, nơi ông vừa từ bỏ; và Hữu Loan với “Mầu Tím Hoa Sim,” là một chuyện tình cảm động, đau đáu nỗi niềm tử biệt, sinh ly thì “Ðêm Liên Hoan” hay “Bên Kia Sông Ðuống” của Hoàng Cầm, lại là những bài thơ được lóng sạch tính cá nhân. Nó không có một chút nhân thân Hoàng Cầm, cá biệt.

Tôi cho đó là hai bài thơ tiêu biểu nhất. Cụ thể nhất. Trực tiếp đi tới đầu nguồn ý nghĩa của cuộc lên đường làm thành lịch sử của lớp thanh thiếu niên Việt Nam thời chống Pháp, cận đại.

Chính họ, chính những con người, những nhân vật “trong” “Ðêm Liên Hoan,” “ở” “Bên Kia Sông Ðuống” đã làm nên lịch sử.

Do đó, là tác giả, Hoàng Cầm cũng chính là mặt bên kia của đồng tiền lịch sử ấy.

Hôm nay, tác giả đã mất. Hoàng Cầm đã đi xa. Nhưng “Ðêm Liên Hoan,” “Bên Kia Sông Ðuống”... của ông, sẽ ở lại với lịch sử, vì tính: “Duy nhất một ngọn cờ Tổ Quốc”!


Du Tử Lê

(Calf. 10 tháng 5, 2010)