Nha CaNói về nhân cách một nhà văn (tiếng chỉ chung: nhà văn và nhà thơ,) tôi luôn nghĩ họ có nhiều hơn một nhân cách.

Nhân cách thứ nhất: Nhân cách văn chương (chỉ tài năng nhà văn).

Và, nhân cách thứ hai: Nhân cách đời thường.

Về nhân cách văn chương của Nhã Ca thi sĩ, Nhã Ca nhà văn, thì nó đã là một nhân cách rực rỡ. Ðã định hình. Bất khả chuyển.

Riêng nhân cách đời thường, nơi Nhã Ca, với tôi, cũng là một nhân cách đáng trân trọng.

Kinh nghiệm trong đời thường cho chúng ta rất nhiều thí dụ cụ thể về những cá nhân tạo, đạt được những thành tựu đáng kể trong văn chương. Nhưng nhân cách đời thường ở họ, lại là con đường nghịch chiều. Một hướng đi, một ngã rẽ khác.

Ngay với những tài năng lớn, được thực chứng bởi những sản phẩm nghệ thuật giá trị, nhưng trong đời thường, họ lại có một nhân cách khác.

Ðó là thứ nhân cách phản ảnh cái tâm đố kỵ. Ganh ghét. Thủ đoạn... Hoặc đó là cái tâm chật hẹp với...

... tinh thần phe phái. Cục bộ. Ðịa phương. Khoanh vùng. Một thứ nhân cách ấp, xã với tinh thần Lý trưởng hoặc Chánh tổng...

Trước thực trạng này, sinh thời, cố Thi sĩ Nguyên Sa từng chỉ danh đó là cái tinh thần “phe ta”. “Ðảng ta”. “Vùng đất ta”. Hoặc “quần thần, đàn em ta”... hiển hách. Ngoại giả là cỏ rác. Phải dẹp bỏ. Chặt đầu!

Nói về nhân cách Nhã Ca đời thường, tôi mãi nhớ hình ảnh một “buổi họp kín.” Diễn ra trong phòng âm u trong ngôi nhà sau cùng trên đường Tự Do, Saigòn, của cặp vợ chồng nhà thơ, nhà văn Nhã Ca/Trần Dạ Từ.

Nhà văn Mai Thảo kể, đó là “buổi họp” đầu tiên và cũng là cuối cùng (?)cực kỳ nghiêm trọng giữa nhà văn Nhã Ca với 5 người con của bà.

Buổi họp nhằm đi tới “biểu quyết”:

- Có đồng ý cho bác Mai Thảo tạm trú một thời gian, giữa lúc bác đang bị săn lùng ráo riết bởi chính quyền Cộng Sản?

Mỗi lần nhớ lại hình ảnh 5 bàn tay nhỏ xíu cùng hăng hái, dứt khoát dơ lên trong tình cảnh tai họa có thể ập xuống bất cứ lúc nào, trên mái đầu những trẻ thơ này, tôi không khỏi bùi ngùi. Cảm phục.

Tôi vẫn nghĩ không thể khi không, không thể tự nhiên có được cùng lúc, 5 bàn tay bé xíu dơ lên, trong một quyết định đầy nguy nan như vậy.

Tôi nghĩ đến ảnh hưởng hay giáo dục của bà mẹ. Người sinh ra những đứa trẻ đồng lòng dơ tay “biểu quyết” cho bác Mai Thảo được trốn trong nhà mình (khi mà người cha của chúng là nhà thơ Trần Dạ Từ, còn đang dật dờ trôi từ nhà tù này tới nhà tù khác. Khi mà chính người mẹ của chúng, cũng từng chịu cảnh từ đầy hơn một năm bởi chế độ mới, hiện còn bị theo dõi ngày đêm...).

Dù một nách 5 con nhỏ, nhưng tác giả “Yêu một nhà văn” vẫn chưa bao giờ bỏ qua một kỳ phép được thăm nuôi chồng.

Về những chuyến đi thăm nuôi nhà thơ Trần Dạ Từ, cố nhà văn Mai Thảo, trong tác phẩm “Chân Dung 15 nhà văn, nhà thơ Việt Nam”, do nhà sách Văn Khoa, Calif., xuất bản năm 1985, viết lại theo lời kể của một người từng đi chung với Nhã Ca, như sau:

“...Chuyến đi cho nhìn thấy tất cả những vất vả dọc đường. Cho nhìn thấy cuộc sống điêu đứng hiện giờ của Nhã Ca ở Saigòn sau đại nạn 1975. Cho nhìn thấy sự can trường lạ lùng của bà, một mình giữa cơn hồng thủy (...)”

“Một chiếc xe nhỏ ọp ẹp, khởi hành lúc 5 giờ sáng ở bên xe Petrus Ký. Ðồ thăm nuôi chất đầy. Mọi người ngồi chen chúc, ngộp thở. Ai nấy đều mệt mỏi, ủ rũ, riêng chị Nhã là người mạnh mẽ nhất. Chị đùa cợt cho vui dọc đường, săn sóc tất cả mọi người. Xe tới rừng lá Phan Thiết đã bể bánh. Phải ngưng lại một đêm. Mọi người xuống xe nằm ngủ ngay bên vệ đường với đêm rừng lạnh buốt. Riêng Nhã Ca thức, bó gối ngồi tới sáng. Chiều hôm sau mới tới Nha Trang. Lại một màn gối đất nằm sương ở bến xe, khiến mọi người mệt lả cơ hồ không chịu đựng nổi nữa. Lượt đi tưởng độ hai ngày kéo dài tới bốn ngày ở dọc đường. Ngày hôm sau ra Qui Nhơn, từ Qui Nhơn đi Pleiku, xe lại hư máy nữa ở chân đèo Cả. Tài xế dở chứng đòi quay về Saigòn, chị Nhã năn nỉ mãi. Chị hò mọi người cùng đẩy xe lên con đèo cao ngất. Ðẩy năm bảy cây số tới ngang trại giam trên đường 19, đã xế chiều. Mọi người cùng phải khiêng vác nặng, đi lê lết qua ba cây số đường rừng mới tới trại. Thời gian cho gặp thân nhân chỉ có nửa giờ. Thấy chồng, chị Nhã xúc động ôm lấy và bị bọn cán bộ la lối chửi mắng là đã có cử chỉ sàm sỡ đồi trụy. Chị nín thinh, chịu đựng, ra khỏi trại mới chảy nước mắt (...)”

“Từ chỗ ẩn lánh của mình, nghe chuyện về Nhã Ca, Nhã Ca trong đổi đời, trong giông bão, về những ngày tù đầy của Nhã Ca ở Phan Ðăng Lưu, về những chuyến thăm nuôi Trần Dạ Từ, tấm lòng son sắt thủy chung, tôi không sao kìm giữ được xúc động...”

Chỉ trong cương vị người nghe kể lại, không thực sự trông thấy, càng không là người tham dự chuyến đi nuôi chồng của Nhã Ca, nhưng tác giả “Chuyến tàu sông Hồng” đã không thể không thú nhận rằng, ông “không sao kìm giữ được xúc động”!

Nói về nhân cách Nhã Ca đời thường, tôi cho rằng, tôi cũng sẽ rất không phải, nếu không nhắc tới sự kiện nhà văn này, đã dùng tiền tác quyền, một tác phẩm của mình, làm giải thưởng cho những luận án tiến sĩ y khoa. Mặc dù, điều này, tôi cũng chỉ mới được biết gần đây, qua bài viết của ký giả Tường Vi:

Trên những đặc san cuối năm do Ðại Học Y Khoa Huế xuất bản, trong phần tin tức, thường có loan báo “luận án tiến sỹ y khoa đoạt ‘giải thưởng Nhã Ca’ hàng năm. Ðây là một giải thưởng được thiết lập từ năm 1969 và do chính nữ văn sỹ Nhã Ca bảo trợ. Khoản tiền dùng cho giải thưởng này chính là tác quyền cuốn ‘Giải khăn sô cho Huế’ một bút kỳ nổi tiếng của nhà văn nữ này, viết về biến cố Mật Thân tại Huế.”

Ngày 23 tháng chạp năm Mùi (1967) đang sống ở Sàigòn, Nhã Ca nhận được điện tín của gia đình từ Huế gọi về chịu tang thân phụ của bà vừa từ trần. Bảy ngày sau, cuộc tổng công kích Tết Mật Thân bùng nổ, và nhà văn nữ này, ngoài cái tang gia đình, đã phải chịu cái tang chung cho cả thành phố bị tàn phá.

“Những điều tai nghe mắt thấy trong hơn hai tháng lưu lạc trong biến cố tết Mậu Thân tại Huế được Nhã Ca viết lại thành tác phẩm ‘Giải khăn sô cho Huế’ và toàn bộ tác quyền đầu tiên của cuốn sách nổi tiếng này được dành tặng cho Huế. Một phần góp vào việc cho trường nữ trung học Ðồng Khánh. Một phần được trao tặng cho Ðại Học Y Khoa Huế, và vị khoa trưởng y khoa Huế thời đó là bác sỹ Bùi Duy Tâm đã dùng khoảng tiền này để thiết lập một giải thưởng mệnh danh là ‘giải thưởng Nhã Ca’ dành cho luận án tiến sỹ y khoa xuất sắc nhất hàng năm.”

Ðến đây, tôi không thấy cần thiết phải kể thêm, dẫn chứng thêm về nhân cách đời thường của tác giả “Ðoàn nữ binh mùa thu”.

Tự thân đời sống bà, những năm tháng nắng, mưa những thời gian huy hoàng và, bão tố... đã nói đủ, nói hơn những gì chữ nghĩa tôi, có thể vươn tới.

Cạnh đó, tôi nghĩ, dù muốn hay không, đã 35 năm trôi qua. Thời gian với bản chất cần mẫn (đôi khi đáng nguyền rủa của nó wink , vẫn lặng lẽ làm công việc không ai khiến, chẳng ai nhờ!

Ðó là sự khép miệng những vết chém. Chà mỏng những đường sẹo. Lấp đi những phần khuyết...

Nhưng điều nó không làm được, theo tôi, dù cho nó có thêm bao nhiêu cái 35 năm nữa, đó là:

- Nhân cách đời thường của nhà văn Nhã Ca.

Nhân cách này cũng tựa một dòng chảy khác. Một dòng chảy song song với nhân cách văn chương rực rỡ của bà. Một người làm thơ, viết văn tên là Nhã Ca/Trần Thị Thu Vân.